Nghe có vẻ nghịch lý khi nói rằng cái nghèo là một huyền thoại của thời bao cấp. Nhưng thực là thế. Coi cái nghèo như một hệ thống ký hiệu thuộc trật tự thứ hai, diện mạo của cái nghèo thường được coi là cái biểu đạt cho một hàm nghĩa khác. Chẳng hạn, nghèo gắn liền với phẩm hạnh đạo đức – một cách biểu nghĩa khởi đi từ truyền thống Nho giáo. Nguyễn Công Trứ có bài “Hàn nho phong vị phú” mở đầu bằng câu chửi “Chém cha cái khó” vậy ma cả bài vẫn cứ toát lên ngất ngưỡng đó thôi.

Không phải thời bao cấp, cái nghèo là một cấm kỵ, người ta không được nói về nó khi diễn ngôn bao trùm của thời đại là một diễn ngôn lạc quan, theo tinh thần “trời mỗi ngày một sáng”. Cái nghèo được nói đến, nhưng nó không được phép đi liền với cái đói, cái khổ, đặc biệt là cái nhục. Cái nghèo là cái thuộc về hoàn cảnh khách quan mang tính tạm thời, nên con người luôn có thể đứng vững, đứng cao hơn thực tại. Ở giai đoạn hậu chiến, cái nghèo là thứ khó xoa dịu được bằng cái lạc quan phơi phới trước đó nữa. Nhưng nó lại bị cột vào cái lầm lụi gây cảm thương, nao lòng. Nhạc sĩ Dương Thụ từng có bài hát “Biển gọi” lấy cảm hứng từ làn sóng người vượt biên những năm cuối 70- đầu 80 mà lời hát có câu như trách người ta nỡ rũ bỏ quê hương chỉ vì quê nghèo:

Biển gọi em đi đâu, đi đâu mà biệt xứ
Đất quê ta nghèo mùa xuân còn ít hoa

Bà mẹ mà làm chúng ta lúc nào cũng thấy xúc động và có lỗi luôn phải là bà mẹ nghèo:

Mẹ ta không có yếm đào
Nón mê thay nón quai thao đội đầu
Rối ren tay bí tay bầu
Váy nhuộm bùn, áo nhuộm nâu bốn mùa
(Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa – Nguyễn Duy)

Trong bối cảnh đó, tiểu thuyết Trư cuồng của Nguyễn Xuân Khánh (1982) có thể coi là sự giải huyền thoại về cái nghèo ở thời bao cấp. Tiểu thuyết vốn chỉ nằm trong ngăn kéo bản thảo của nhà văn, sau hơn 30 năm được xuát bản chính thức nhưng phải đổi tên là Chuyện ngõ nghèo với hình bìa không làm gợn lên sắc thái trào phúng của nó mà lại dễ làm chúng ta rơi vào trường cảm xúc mà cái nghèo thời bao cấp đang dễ gợi ra: nghèo mà thương, nghèo mà thơ.

Trên thực tế, cái ngõ nghèo thi vị ấy lại không xuất hiện trong câu chuyện nhiều. Trong tác phẩm có nhiều miền không gian ảo ảnh huyền hoặc khi đến phần 2 “Hành trình vào Hỗn mang” nhưng sẽ không phải là thứ không gian phố nhỏ ngõ nhỏ nghèo buồn mơ màng mà nó sẽ được hiển lộ ra khi “Mưa thối đất thối cát, làm cái ngõ nghèo của ta trở thành một vũng bùn lầy lụa. Ta và đàn lợn của ta nằm giữa cái ao bùn mênh mông đó.”

Câu chuyện diễn ra khi Hà Nội đang trong “cơn mê lợn” và nhân vật chính- Hoàng, một nhà báo về hưu non giờ chủ yếu ở nhà nuôi lợn đưa một con Lợn Bò về nhà. Dường như, không gian và thời gian trong tác phẩm được trải phẳng vì tất cả những gì người ta có thể cảm nhận rõ ràng nhận là âm thanh lợn kêu hay cái mùi, cái chất lợn phảng phất ám vào khắp nơi. “những rọ lợn giống buộc đằng sau xe mốt cô vích tấu lên một khúc nhạc eng éc, rền rĩ, rùng rợn, nhưng vui tai đối với người Hà Nội.” Rõ ràng nuôi thêm con gà, con lợn có thể giúp cải thiện cuộc sống vốn rất đỗi khó khăn thời bao cấp và “cơn lợn” ấy cũng trở thành một con đường tất yếu để nuôi sống cả gia đình. Mỗi nhân vật trong tác phẩm lại phóng chiếu bản thân và quá khứ của mình lên việc nuôi lợn, lên đàn lợn. Việc nuôi lợn thời điểm ấy cũng là một dấu ấn đảm bảo về đạo đức khi tính “lương thiện” được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong tác phẩm. Như “Ở nước ta, hiện nay, ai nuôi lợn là người đáng quí trọng, bởi vì nuôi lợn là một công việc kiếm sống lương thiện nhất.”

Nhưng khi những giấc mơ trở thành ác mộng và những nghịch lý ngày càng hiển hiện, người ta sẽ nhận ra rằng hóa ra “Nuôi lợn là một cách “trốn vào núi” hiện đại. Nhưng hoá ra trong chuồng lợn cũng có đời.” Và cái nghèo không bao giờ có thể chỉ thuần khiết là thanh cao, là giản dị. Những con số tiền nong, những cái bụng đói, những tiếng cãi vã, hay kể cả sự im lặng đầy ngột ngạt sẽ cho thấy cái “nghèo” không bao giờ chỉ đóng vai trò như một cái nền đen bất động đằng sau để anh phô diễn lý tưởng, tinh thần của mình. Mà nó sẽ bủa vây anh, xiết chặt anh vì đã xem thường nó. Nó sẽ không ngừng đến khi anh tự vấn lại mình: tại sao chỉ cho rằng lý tưởng, tinh thần là việc lớn còn cơm áo là việc nhỏ? Tại sao có thể chỉ xem hoàn cảnh như một bức tranh u uẩn đẹp đẽ hướng tới lý tưởng xa xăm mà lờ đi những mặc cảm, những tủi nhục, khổ sở của con người?

“Đừng có bẻm mép lý thuyết thêm nữa; đừng tìm cách biện hộ, che giấu. Trong lúc này, không lo đủ miếng ăn cho lũ con, đó là tội lỗi. Cớ sao anh lại phè phỡn. Anh dửng dưng chăng? Anh còn lo hão những chuyện to tát đâu đâu chăng? Anh còn tự phỉnh nịnh ru ngủ bằng cái nghèo đẹp đẽ, bằng những ngôn từ vĩ đại sáo rỗng đến buồn nôn chăng? Anh là kẻ vô sỉ, thứ Người – Lợn. Tâm hồn tôi rưng rức khóc; và những giọt nước mắt nóng hổi tràn trụa trong lòng khiến toàn thân tôi rung lên.
Ôi chao! Sao ta bất lực.”

Xem nhẹ chuyện đói nghèo có phải là một điều phi nhân tính? Khi cái khổ cũng phần nào là mầm mống của cái ác, khi cái nghèo không đứng độc lập một mình mà đi cùng với nó là cái khổ, cái đói, cái nhục. Người ta đồng thời vừa thương nhớ một thời khốn khó nhưng hình như cũng lạnh lùng khước từ những góc nhìn trái mắt và thông cảm với một cá nhân riêng biệt. Hay lờ đi rằng sự thật đó từng là một xã hội ra vẻ bình đẳng nhưng sẽ khó mà cho phép một cá nhân nào từ chối chấp nhận cái mà tất cả đều phải chấp nhận.

Người viết: Thùy Dương

Leave a Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *