Năm 1959, căn hộ tập thể đầu tiên đã được xây dựng lên ở Hà Nội dựa theo cảm hứng từ một chuyến thăm Triều Tiên của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào 2 năm trước đó. Theo tìm hiểu của ông Đỗ Văn Yên, một trong những cư dân đầu tiên của nhà tập thể Kim Liên, Bác Hồ đã đề nghị Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên hỗ trợ Việt Nam xây dựng mô hình nhà ở này sau khi tham quan một khu tập thể của cán bộ, công nhân viên Triều Tiên, một quần thể kiến trúc khép kín với sân chơi, trạm y tế,… – một mơ ước của Việt Nam thời bấy giờ bởi khi đó cán bộ kháng chiến từ Việt Bắc trở về năm 1954 vẫn chưa có nhà để ở mà phải ở tạm nhà dân. 
Kể từ đó sự tồn tại lâu dài của các khu tập thể ở Hà Nội chứng tỏ rằng trong đời sống hàng ngày, người ta có thể hoàn toàn yên tâm với một nơi trú ẩn riêng tư mang tính chất xã hội chủ nghĩa.

Nhà tập thể, đầu tiên ngay từ chính tên gọi nó đã tự tách mình ra khỏi các loại hình kiến trúc mang tính cộng đồng khác: nhà hát, quảng trường, toà thị chính… Nhà có thể hiểu là biểu hiện của tính riêng tư trong một xã hội cộng đồng, một nơi chốn thuộc về cá nhân chứ không phải tổ chức. Thế nhưng nhà tập thể thì đã được tình cảm hoá một cách công khai, và được trả về trạng thái nhập nhằng giữa cái riêng và cái chung, nó là cái nuôi dưỡng chủ nghĩa xã hội của chúng ta.

Huyền thoại ấy vận hành theo hai giai đoạn: trước hết phải nói rằng người ta khẳng định tính riêng tư, kín đáo, bí mật của căn nhà, một biểu tượng con người nhân văn lần đầu tiên tách mình ra khỏi tự nhiên và có được nơi nương náu an toàn. Rồi từ tính riêng tư ấy, người ta rút đi cái ý nghĩa riêng tư ấy, chỉ để lại cái vỏ rỗng rồi tự mình thêm vào tính thống nhất: à nếu như ai cũng cần sự riêng tư ấy, thì nó là tính riêng tư phổ quát; và nếu như trong đó còn tồn tại đặc tính nào đấy về bộ lạc, người ta lại cho rằng các đặc tính đó đều có bản chất tự nhiên và tính riêng tư ấy đều bắt nguồn từ tập thể. Điều này lại quay về khẳng định rằng lý tưởng xã hội của con người là đại đồng.

Tính đại đồng ấy nổi bật thêm qua những nhu cầu cơ bản của con người cũng được biến hoá thành tập thể, ví dụ như: nhu cầu di chuyển thì có cầu thang chung, nhu cầu vui chơi giải trí thì có sân chơi chung, và thậm chí ngay cả nhu cầu ỉa đái người ta cũng làm nhà vệ sinh chung. Nhưng cũng phải nói ngược lại rằng dù cho có nhiều cái chung đến thế, nhưng cái kết cấu của nhà tập thể không cho phép người ta có thể hoàn toàn chung sống cùng nhau một cách tuyệt đối nhất và lại càng không có cách gì để yêu cầu quyền từ chối cái sự chung mặc dù chúng ta cứ ngỡ rằng mình đang ở chốn riêng tư nhất, tránh xa được đời sống cộng đồng.

Huyền thoại về nhà tập thể ấy luôn đặt tính chất cộng đồng ép buộc ấy lên trên cái luôn hiện diện là bản chất cộng đồng nguyên thuỷ tự nhiên của loài người. Nếu bóc một chút cái ép buộc ra, ta có thể ngầm hiểu rằng có một sự nhập nhằng khác, cái nhà ấy vừa là của cá nhân, vừa là của tập thể.

Đây cũng chính là một huyền thoại của thời kì bao cấp, của nền văn hoá miền Bắc Việt Nam và của chủ nghĩa cộng sản. Tinh thần đại đồng ấy được xem là điểm gặp gỡ giữa lý tưởng chủ nghĩa cộng sản và học thuyết Nho giáo (không phải vô cớ khi mô hình nhà tập thể đầu tiên được xây dựng lại lấy nguyên mẫu từ Triều Tiên). Nhà tập thể được xây dựng không chỉ để giải quyết bài toán về quy hoạch và tổ chức đời sống ở miền Bắc thời kỳ này mà còn là sự phóng chiếu lý tưởng ấy. Những khu nhà tập thể 4-6 tầng vươn lên giữa thủ đô thời bấy giờ trở nên một biểu tượng đáng tự hào của chủ nghĩa xã hội. Ta bắt gặp những câu từ ngợ ca tầm cao của những khu nhà qua những vần thơ, những lời hát. Chẳng hạn:

Anh còn đi xây nhiều nhà khắp nơi
Nhiều tổ ấm sống vui tình lứa đôi
Anh càng yêu em càng hăng say xây thêm nhà cao cao mãi…
Ôi xinh đẹp Tổ quốc của ta,
Anh lắng nghe bao lời ân ái những bài tình ca…
(Những ánh sao đêm – Phan Huỳnh Điểu)
Cùng với hình tượng các tòa nhà cao tầng như là biểu tượng kiêu hãnh của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, hình tượng những người thợ xây cũng được phủ lên một màu sắc sử thi, trở nên lồng lộng như những tượng đài:
Em là thợ quét vôi.
Quét nên tường trắng (ơ) tường xanh (ơ) tường vàng
Xanh vàng xanh trắng xanh xanh
Xanh vàng xanh trắng xanh xanh
Tay đưa chổi nhanh nhanh (ơ)
Bên những tầng nhà mới, trong những căn buồng cưới
Em thích màu da trời.
Tay người thợ quét vôi tô thêm màu hạnh phúc
Đây người thợ kiến trúc (ơ), đi xây đẹp cuộc đời
Em là thợ quét vôi, làm đẹp cho thành phố…
Em là thợ quét vôi!
(“Em là thợ quét vôi” – Đỗ Nhuận)

Nhà tập thể cao tầng vì thế có thể được xem là biến thể của “tháp”. “Toà tháp” này do chủ nghĩa xã hội xây dựng nên, bao phủ màu sắc của lý tưởng đạo đức lớn lao về tập thể, cơ quan, đoàn thể, dường như không thể sụp đổ được. Cách kiến tạo huyền thoại của chủ nghĩa cộng sản có lẽ khác với các huyền thoại của xã hội thị dân tư sản ở điểm này: một bên, các ký hiệu trong đời sống được đắp vào lớp nghĩa đạo đức trong khi một bên không ngừng khơi gợi những dục vọng. Dục vọng có thể là hằng số trong khi đó đạo đức lại là thứ có thể biến dịch. Bên trong những khu nhà lớn lao ấy, những người công nhân viên chức của một cơ quan chia sẻ cùng nhau không gian sống (tập thể bộ ngoại giao, tập thể ngân hàng, tập thể ban cơ yếu chính phủ, tập thể cao-xà-lá,…), nơi ấy những nhu cầu riêng cũng được coi là cái chung (nhà vệ sinh chung, cầu thang chung, sân phơi chung, sân chơi chung,…). Đây là một điều vô lý quá chứ, nhưng trong hoàn cảnh lịch sử và xã hội bấy giờ, nhân dân miền Bắc vẫn vui vẻ chung sống; còn ngày nay vì sao những mô hình nhà tập thể này vẫn tồn tại được?

Người viết: Vương Vũ – Quỳnh Anh Vũ

Leave a Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *