Hoài niệm vốn là một tâm thái văn hóa của con người. Đọc thời bao cấp như một huyền thoại không thể không chú ý đến xu hướng của văn hóa hoài niệm đang nổi lên ở thời điểm hiện tại mà một biểu hiện của nó là các tự truyện ôn lại tuổi trẻ, ôn lại thời hoa niên. Các tự truyện theo dòng này không nhất thiết là chuyện kể của các nhà văn hay của những nhân vật nổi tiếng: họ có thể là những con người bình thường, muốn ôn lại, vẽ lại tuổi trẻ của mình, vừa để tự ngắm, vừa để người khác ngắm. Những bức chân dung ấy, ít nhiều, có chiều kích huyền thoại.

*

Cơ thể hoàn chỉnh của một huyền thoại bất kì bao giờ cũng được cấu tạo từ chí ít một tế bào gốc độc lập, trơ trụi, tạm coi là ký hiệu ở cấp độ thứ nhất, trước khi được đắp thịt thêm da để trở thành huyền thoại. Huyền thoại về tuổi trẻ thời bao cấp mà Quân khu Nam Đồng tạc nên trước mắt người đọc, nếu nỗ lực rút gọn tối giản đến tột cùng, thì đó chỉ còn lại vỏn vẹn là câu chuyện về một đám trẻ đã dành cả thanh xuân dắt dao đi đánh lộn. Nhưng cũng giống như cố gắng của nhà đài quảng cáo biến một chai dầu gội đầu hương bạc hà không hơn trở thành biểu tượng của phái mạnh với hashtag #bấtbại bằng việc liên tục gieo rắc hình ảnh anh chàng Ronaldo tâng bóng, sút bóng rồi gội đầu, vuốt tóc, mỉm cười tự tin chen giữa những khung giờ vàng, tuổi trẻ đánh lộn của bác Bình Ca và rất nhiều các bác khác những năm 70 của thế kỉ trước bằng cách này hay cách khác trở thành một kí ức chung đẹp đẽ của hết thảy những bạn đọc Việt. Những người già đã từng sống trẻ trong những năm tháng đó thì nhất định phải mua một cuốn về để hoài niệm, còn những người trẻ tuổi đương thời dù không trải qua thời quân khu nhưng cũng nhất định phải tậu về, phần vì hiếu kì, phần vì muốn sân si một chút những hoài niệm dù không phải của mình nhưng có nền tảng chắc chắn hơn, có giá trị hơn để thỏa mãn nhu cầu được hoài niệm của mình. Và thế là tuổi trẻ thời bao cấp là một huyền thoại.

Để trở thành một huyền thoại, tuổi trẻ của những cậu nhóc thuộc Quân khu Nam Đồng trước tiên sẽ không được viết ở thời hiện tại tiếp diễn mà phải được đặt trong bối cảnh của sự hồi tưởng, tức là nhuộm huyền thoại bằng nước màu của quá khứ. Bao giờ người ta cũng dễ dãi và dễ dàng hơn khi hồi tưởng và nói về những chuyện đã qua: những cái điểm còn mù mờ có thể biến thành chắc chắn, những thứ không có tự nhiên có thể có, những thứ tưởng xấu xí, đau đớn lại hóa ra có thể trở thành đẹp đẽ và gây xúc động khi nằm trong dòng chảy của kí ức. Những câu chuyện tuổi hai mươi của Việt, Hòa, Hoàng, Sơn, … khi được tự nhìn lại cũng chỉ toàn thấy nổi cộm lên những đánh nhau, kiểm điểm, vào đồn công an và họ còn chần chừ nếu kể ra sẽ làm gương xấu cho con, nhưng sau tất cả, với họ, đó vẫn là những kỉ niệm đẹp nhất họ có được. Tuổi trẻ của những năm 70 có tiềm năng trở thành một huyền thoại trước tiên phải nhờ được thông qua một lăng kính của kí ức. Những người kể lại, chí ít họ cần một khoảng thời gian và một khoảng trải nghiệm đủ dày để có những khả thể so sánh được và nhìn ra nhân tố của huyền thoại. Câu chuyện thời bao cấp, hay tuổi trẻ thời bao cấp chính lúc “sinh thời” có lẽ cũng chưa thể là một kịch bản ấn tượng với những người tham gia, chỉ mãi sau này, cỡ vài chục năm, khi người tham gia khi đó giờ trở thành một chứng nhân và sống trong thực tại của một mô hình xã hội khác, với những cơ chế vận hành khác không đem lại nhiều thỏa mãn, họ nhìn lại, nhớ nhớ quên quên và tin chắc rằng thời đánh lộn và yêu đương đầy éo le, khó khăn giữa bối cảnh một cuộc chiến là thời đẹp nhất.

Nếu chỉ dựa vào cơ chế hồi tưởng thì huyền thoại vẫn rất khó để thành hình, bởi chu trình “nhớ lại và cảm thấy những khoảnh khắc đã qua mới la đẹp đẽ” có thể diễn ra và đúng với hầu hết đối tượng. Để trở thành được huyền thoại, chính bản thân thời bao cấp phải là một không thời gian tiềm tàng những tính chất đặc biệt mới có thể tạo tiền đề để tuổi trẻ thời này làm nên được huyền thoại, tức là phải tích lũy được một lượng ý nghĩa có giá trị nhất định. Thời điểm tập trung miêu tả tuổi trẻ trong Quân khu Nam Đồng là những năm từ 70 đến 75, khoảng thời gian có tính chất giao thời, tức là tuổi trẻ miền Bắc một mặt vẫn sống trong bầu không khí chiến tranh khi bố mẹ của họ vẫn đang chiến đầu ngoài mặt trận ở miền Nam, nhưng một mặt khác, họ đi đứng, ăn ở, nói năng trực tiếp tại những khu nhà tập thể của Hà Nội, trong hoàn cảnh miền Bắc đang xây dựng chủ nghĩa xã hội. Những đứa trẻ thời kì này dù vẫn còn phải chịu những tổn thương của chiến tranh nhưng đã chạm tay sơ sơ được vào hòa bình. Bao giờ những tình thế có tính chất ở giữa, không phải cái này, nhưng chưa là cái kia cũng dễ nảy sinh ra những chỗ bỏ ngỏ đặc biệt.

Thực tế, tuổi trẻ của Quân khu Nam Đồng sở dĩ có thể tính đến như một huyền thoại bởi nó đã thực hiện một công việc là “giải huyền thoại” một cơ số những ý niệm khác, mà ở đây, quan trọng nhất, nó phá vỡ đi tính chất huyền thoại của tuổi trẻ thời chiến. Nếu như trước đó, tuổi trẻ gắn liền với thế hệ thanh niên xung phong, dấn thân vào cuộc chiến, đi liền với hình ảnh người chiến sĩ quả cảm ngoài mặt trận, thì Quân khu Nam Đồng, tuổi trẻ thời bao cấp sẽ là tuổi trẻ của những đứa con của họ. Là cuốn tự truyện đặt tên là Quân khu, nhưng không phải Quân khu Bác Hồ kí sắc lệnh như Quân khu Việt Bắc, Đông Bắc, Tây Bắc, Tả Ngạn, … mà là Quân khu Nam Đồng, một khu gia binh của Hà Nội. Những đứa trẻ sống tại miền Bắc lúc này được đi học đàng hoàng đủ Toán, Văn, Sử, … những chuyện chúng lo nghĩ là làm sao để chọc ghẹo thầy cô, hàng xóm, đánh thắng những kẻ bắt nạt mình và bạn mình, viết thư tình sao cho thật thuyết phục, … Quân khu đối với chúng không phải là một căn cứ điểm trọng yếu đánh giặc mà là để đánh lộn. Chúng mặc lại quân phục từ cha mẹ không, đi kiểu duyệt binh trên đường nhưng không để trở thành một người lính mà để tạo ra những tiếng loẹt quẹt và bụi mù trên đường tới trường và thách thức với trường học. Chúng hát to và dõng dạc Quốc ca thay vì để thể hiện tình yêu với Tổ quốc thì trêu ngươi và gây tức tối với những lãnh đạo trường học. Chúng gọi những người say sưa với lí tưởng Cộng sản là “Bôn sệt”, từ chối vào Đoàn, học cảm tình Đoàn để đi theo tiếng gọi của bạn bè mà chúng cho rằng thế mới là chính nghĩa. Chúng sử dụng những thuật ngữ trong chiến đấu, những chiến lược của bác Giáp để thực thi với những trận đánh tại cổng trường của mình. Chúng đọc thuộc những lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến chỉ để chép thuộc lòng và xào xáo cho mọi mở bài trong tiết dạy Văn. Những người thương binh với chúng chỉ là một cái huy hiệu trên ngực chứng nhận cho những kẻ đánh lộn không bao giờ bị công an sờ tới. Đối với chúng, nhập ngũ có khi là để tránh vào tù. Những con gà, con lợn nuôi trong nhà tắm để làm kinh tế vực dậy kinh tế quốc dân sớm muộn cũng bị chúng bẻ chân chỉ để trả thù và cho vui. Cùng với việc lớn lên khác xa với cách những bố mẹ chiến sĩ của chúng từng lớn, chúng giải thể luôn huyền thoại về chiến tranh, về chủ nghĩa xã hội. Những khái niệm có tính chất to lớn, vĩ mô, sử thi chỉ vừa thu bé lại bằng những đứa trẻ. Lịch sử tóm lại chỉ là tranh vẽ một con lật đật có nốt ruồi ria mép hí họa về cô giáo Uy truyền tay nhau trong giờ Sử.

Nhưng nếu chỉ là nổi loạn và thách thức thì chưa đủ để những đứa con của quân khu Nam Đồng sống và trở thành best-seller như là một huyền thoại. Những đứa trẻ càng đi sâu vào thời bình, lìa xa những cuộc chiến chúng sẽ còn nổi loạn và thách thức hơn nhiều. Tuổi trẻ của thời bao cấp có tiềm năng trở thành một kí ức chung bởi nó vẫn mang vẻ đẹp của sự bi hùng dù ẩn trong màu áo của tụi học trò ngỗ ngược. Sở dĩ huyền thoại cứ được sản xuất ra mỗi ngày bởi tính chất hoành tráng, quy mô, dễ gây ra cảm giác được ve vuốt, mãn nhãn của người tiếp nhận huyền thoại. “Mình là con nhà lính, làm chuyện gì cũng phải đàng hoàng [tr69]”. Cho dù nghịch phá cỡ nào thì ý thức và niềm tự hào với thân thế “con nhà lính” vẫn là thứ khiến những đứa trẻ của quân khu đẹp rạng rỡ. Những trận đánh với dao và lưỡi lê dù tai hại nhưng thường xuất phát từ tính nghĩa hiệp, anh hùng mong muốn bảo vệ bạn bè và chứng tỏ bản thân của những đứa trẻ mới lớn. Những trò chọc phá thầy cô, bạn bè chỉ là nhất thời, những đứa trẻ của quân khu vẫn là những đứa trẻ giàu tình cảm, biết suy nghĩ và mong muốn giúp đỡ người khác. Lòng tự trọng, tính trung thực, sự nghĩa hiệp luôn được đặt lên hàng đầu. Trong thời buổi của bao cấp khi hòa bình mới chỉ “vắt nửa mình”, hình ảnh người lính dẫu sao vẫn mang tính chất của một biểu tượng chứ chưa thất thế như thời của Tướng về hưu sau này. Đặt vào miệng những đứa trẻ những câu nói kiểu “con nhà lính” dẫu có phần cải lương nhưng phải chính là cái cải lương ấy mới đủ sức để làm nên màu của tuổi trẻ thời quân khu. Chúng dù ngỗ ngược ngang tàng nhưng vẫn phải giữ chất ngạo nghễ và anh hùng của một người lính. Sau này, những đứa trẻ Việt, Hòa, Hoàng, Quốc, Giang, Hương, Dung, … dù chỉ còn 2 năm nữa là cán mốc hòa bình hoàn toàn rồi cũng sẽ xung phong nhập ngũ vì lí tưởng của dân tộc, sẵn sàng xả thân và hi sinh, nhưng cái nét hào hoa của những đứa trẻ lớn lên giữa thành phố vẫn sẽ nâng đỡ chúng hết cuộc chiến. Chúng vẫn sẽ là những nốt nhạc nào đó rất khác với bố mẹ chúng. Hình tượng mới của những đứa trẻ vẫn còn biết buồn bởi vết thương chiến tranh nhưng đã tự tin và tự do biết vui bởi chính thời của mình chứ không ẩn ức mãi về thời cha chú nữa, chính điều ấy làm nên một tuổi trẻ ấn tượng. Càng về sau này, càng gần với thời bình hơn, tuổi trẻ cứ mỗi ngày sẽ lại tự do và nhạy cảm hơn, những khủng hoảng giờ đây rồi sẽ là đặc sản của tuổi trẻ. Nhưng tại thời điểm này, điểm rơi của huyền thoại đang rơi vào “tuổi trẻ thời bao cấp”. Cả xã hội lên cơn sốt về sự trở lại của thời bao cấp như một kí ức chung gần nhất có đầy đủ phẩm chất để trở thành huyền thoại. Một quân khu nhưng ở giữa một thành phố, một thủ đô mới mới đang là một bối cảnh có đủ thức ăn và dinh dưỡng đi nuôi những tính cách đặc biệt cho tuổi trẻ, cho huyền thoại trong thời này. Quân khu Nam Đồng là một cuốn truyện rất có duyên, tưởng như có chiến tranh đó nhưng khiến người ta bật cười và mát lòng khi nhìn những đứa trẻ lớn lên độc lập, tưởng như chỉ viết về mấy chuyện đánh nhau, nghịch ngợm, yêu đương tuổi hoa niên nhưng vẫn khiến người ta gợn buồn vì một trận chiến tưởng đã qua từ rất lâu.

*

Tuổi trẻ trong Quân khu Nam Đồng có thể có một vài biểu hiện nằm trong mẫu số chung của tuổi trẻ mọi thời. Nhưng đó vẫn là thứ tuổi trẻ nổi loạn trong khuôn khổ chứ chưa phải một thứ tuổi trẻ đi hoang như những người cùng trang lứa với các nhân vật ở đô thị miền Nam giai đoạn này. Thiếu vắng những bất an hiện sinh, những chân dung tuổi trẻ này rất dễ trở thành những bài học dụ ngôn cho tuổi trẻ bây giờ.

Quân khu Nam Đồng vẫn bán chạy và tiếp tục bán chạy bởi huyền thoại thì luôn bán chạy, nhất là khi nó ở đúng điểm rơi của nó. Phải là những người như Bình Ca và bạn bè của ông, nay đã trở thành những người thành công trong đời sống hiện thực, những người có đủ thẩm quyền để tự biểu đạt và dán nghĩa cho quá khứ của họ, những người đã trưởng thành và đầy đủ mà cái khổ, cái khó khăn của một thời bao cấp giờ đây đủ sức để được mĩ lệ hóa thành cái hào hùng, cái lãng mạn, cộng thêm một bối cảnh mà sự hoài niệm giờ đây lại là “mốt” thì một Quân khu Nam Đồng mới có số, có má trở thành hiện tượng và nuôi dưỡng thêm một dưỡng chất huyền thoại cho không gian “thời bao cấp”.

Người viết: Vũ Kiều Chinh

Leave a Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *