Slavoj Žižek – Theo dõi và trừng phạt? Vâng, xin mời!

Nhiều nhà bình luận theo chủ nghĩa tự do và Cánh tả đã ghi nhận cách mà dịch virus Corona góp phần biện minh và hợp thức hoá các biện pháp kiểm soát và điều tiết con người – những chuyện cho tới giờ vẫn không thể nào hiểu nổi nhưng đã xảy ra trong xã hội dân chủ phương Tây. Chẳng phải sự phong tỏa toàn bộ nước Ý là giấc mộng tinh đã trở thành hiện thực của thiết chế toàn trị? Không gì ngạc nhiên khi Trung Quốc (chí ít như bề ngoài hiện giờ của nó), nơi đã thực hiện rộng rãi các cơ chế kiểm soát xã hội mang tính số hoá, đã chứng tỏ là đất nước chuẩn bị tốt nhất để ứng phó với đại dịch có sức công phá lớn này. Liệu điều này có nghĩa rằng, ít nhất trên một vài khía cạnh, Trung Quốc là tương lai của chúng ta? Có phải chúng ta đang tiến tới một tình trạng ngoại lệ trên phạm vi toàn cầu? Phải chăng những phân tích của Giorgio Agamben đã có được những ví dụ thực tiễn minh họa mới? Cũng không đáng ngạc nhiên khi chính Agamben đưa ra kết luận này: ông phản ứng với đại dịch virus Corona một cách khác biệt hoàn toàn so với phần đông các nhà bình luận khác. Ông ái ngại cho “những biện pháp khẩn cấp điên cuồng, phi lý, và hoàn toàn vô căn cứ được áp dụng cho một ‘đại dịch’ virus Corona”, trong khi nó cũng có thể chỉ là một phiên bản khác của bệnh cảm cúm, và đặt câu hỏi: “Tại sao truyền thông cũng như các chính quyền lại ra sức tạo một bầu không khí hoảng sợ, để rồi kích động một trạng thái ngoại lệ1 Trạng thái ngoại lệ (state of exception) là một khái niệm trong lý thuyết pháp lý của Carl Schmitt (một nhà tư pháp, nhà lý luận chính trị người Đức). Khái niệm này tương tự khái niệm trạng thái khẩn cấp trong thiết quân luật, nhưng dựa vào khả năng của chủ quyền để vượt qua sự cai trị của pháp luật nhân danh lợi ích cộng đồng. Khái niệm này sau được Giorgio Agamben phát triển trong cuốn State of Exception và trong cuốn Necropolitics của Achille Mbembe. thực sự, với những giới hạn nghiêm ngặt trong việc di chuyển và làm ngưng trệ đời sống hàng ngày cũng như các hoạt động làm việc đối với toàn bộ khu vực?”

Agamben tìm thấy lý do chính cho “phản ứng bất cân xứng” này trong “xu hướng sử dụng trạng thái ngoại lệ ngày càng tăng như một hệ hình quản trị bình thường.” Những biện pháp bắt buộc này tạo điều kiện để chính phủ hạn chế rốt ráo tự do của chúng ta bằng nghị định cấp cao: “Theo Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia Ý (NRC), rõ ràng những biện pháp hạn chế này không tương xứng với mối đe dọa từ thứ chỉ giống như một cơn cúm thường, không khác mấy với ảnh hưởng của những cơn cảm chúng ta có hàng năm. /…/ Chúng ta có thể nói rằng một khi chủ nghĩa khủng bố bị lạm dụng để biện minh cho những biện pháp ngoại lệ, sự phát minh ra một đại dịch có thể đưa ra cái cớ để mở rộng những biện pháp này vượt qua mọi giới hạn.” Lý do thứ hai đó là “trạng thái sợ hãi, trong những năm gần đây đã hoà vào ý thức của mỗi cá nhân và biến thành một nhu cầu thực sự cần đến trạng thái sợ hãi tập thể, và chính nhờ những điều kiện này mà đại dịch lại trở thành một cái cớ rất lý tưởng.”

Agamben đang mô tả một khía cạnh quan trọng trong cách thức vận hành cơ chế kiểm soát của nhà nước trong khi đại dịch vẫn đang tiếp diễn. Tuy nhiên, còn nhiều câu hỏi vẫn để ngỏ: Tại sao quyền lực nhà nước lại coi trọng  việc cổ suý một nỗi sợ như vậy, một nỗi sợ song hành cùng nó là sự bất tín đối với quyền lực nhà nước (“họ thật vô dụng, họ làm việc không đủ tốt…”) và làm xáo động quá trình tái sản xuất trôi chảy của tư bản? Hay thực chất chính vì ích lợi của tư bản và quyền lực nhà nước đã châm ngòi một cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu mới nhằm khôi phục sự thống trị của nó? Liệu những dấu hiệu mà ta thấy ngay được như không chỉ người dân, mà bản thân quyền lực nhà nước đang hoảng loạn, ý thức rõ tình hình đang không thể  kiểm soát được, phải chăng chỉ là một mưu toan?

Phản ứng của Agamben là một thái độ cực đoan trong lập trường phổ biến của phe Cánh Tả khi họ diễn dịch “nỗi hoảng sợ thổi phồng” do sự bùng phát của virus gây ra như một hỗn hợp của sự thực thi quyền lực kiểm soát xã hội cùng với những yếu tố của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc cực đoan (“đổ lỗi cho thiên nhiên hoặc Trung Quốc”). Tuy vậy, một diễn giải về xã hội như thế không làm cho hiện thực nguy hiểm này biến mất. Liệu hiện thực này có hối thúc chúng ta tự giác hạn chế tự do của mình? Cách ly và những biện pháp tương tự, tất nhiên, sẽ hạn chế tự do của chúng ta, và cần tới những Assange2Assange, tên đầy đủ là Julian Assange, là một biên tập viên, một lập trình viên, một nhà xuất bản người Úc, là người sáng lập và giám đốc của WikiLeaks. Ông được quốc tế biết đến vì đã công bố các tài liệu mật của chính phủ Mỹ. mới để làm lộ ra các khả thể của việc lạm dụng các biện pháp này. Nhưng mối đe doạ từ nguy cơ lây nhiễm virus cũng góp phần lớn vào việc thúc đẩy các hình thức mới của sự đoàn kết ở phạm vi địa phương và toàn cầu, hơn nữa, nó cũng cho thấy rõ nhu cầu kiểm soát đối với bản thân quyền lực. Người dân có lý khi yêu cầu nhà nước phải chịu trách nhiệm: Ông có quyền lực, vậy cho tôi thấy ông có thể làm gì! Thách thức mà châu Âu đang đối mặt là phải chứng tỏ được với những gì Trung Quốc làm, họ cũng làm được một cách minh bạch và dân chủ hơn:

“Trung Quốc giới thiệu những biện pháp mà châu Âu và Mỹ chắc hẳn sẽ không chấp nhận, có lẽ bởi những phương hại của chúng. Nói trắng ra, thật sai lầm khi diễn giải như phản xạ rằng tất cả các dạng thức cảm nhận và mô hình hoá là ‘giám sát’, và coi quản trị tích cực là ‘kiểm soát xã hội’. Chúng ta cần một bộ từ vựng đa sắc thái hơn để diễn tả các động thái can thiệp.”[1]

Mọi thứ đều phụ thuộc vào “bộ từ vựng đa sắc thái hơn” này: những biện pháp cấp thiết được huy động trong đại dịch không nên bị tự động giản lược thành hệ hình giám sát và kiểm soát thông thường mà những nhà tư tưởng như Foucault đã tuyên truyền. Điều hiện giờ làm tôi quan ngại hơn cả những biện pháp mà Trung Quốc (hay Ý hay…) đang áp dụng, là họ áp dụng những biện pháp đó theo một cách thức sẽ không giúp kiểm soát được dịch, trong khi chính quyền lại sẽ thao túng và giấu giếm những dữ liệu thật. 

Cả phe cực hữu (alt-right) và ngụy tả (fake Left) đều từ chối chấp nhận toàn bộ sự thật về nạn dịch, mỗi bên đều giản lược nó như một thực hành quy giản theo tinh thần của thuyết kiến tạo xã hội, ví dụ, lên án hiện thực này bởi ý nghĩa xã hội của nó. Trump và những người theo đảng ông nhất mực khăng khăng đại dịch này là một kịch bản của Đảng Dân chủ và Trung Quốc nhằm làm ông thua cuộc trong cuộc bầu cử sắp diễn ra, trong khi một số người bên phe Cánh tả—những người lên án các biện pháp do nhà nước đề xuất và hệ thống y tế như thể chúng bị vấy bẩn bởi tư tưởng bài ngoại— lại cứ chủ trương chúng ta bắt tay nhau, v.v… Một lập trường như thế bỏ qua một nghịch lý: không bắt tay hoặc đi cách ly khi cần thiết LÀ một biểu hiện của tinh thần đoàn kết ngày nay.

Giờ đây, ai  sẵn sàng bắt tay và ôm nhau? Những người có đặc quyền. Cuốn Decameron (Mười ngày) của Boccaccio bao gồm những câu chuyện mà một nhóm gồm bảy người phụ nữ và ba người đàn ông trẻ tuổi kể lại trong khi đi lánh một dịch bệnh đang hoành hành khắp thành phố trong một biệt thự cô tịch bên ngoài Florence. Những người thuộc tầng lớp tinh hoa về mặt tài chính sẽ thu mình vào những khu vực vắng vẻ và mua vui cho nhau ở đó bằng việc kể những câu chuyện theo kiểu Decameron. (Những người siêu giàu thì đã đổ xô đến các hòn đảo khu biệt ở Caribbean bằng chuyên cơ). Chúng ta, những người dân thường, những người sẽ phải sống chung với virus, thì bị khủng bố với một công thức lặp đi lặp lại không hồi kết “Đừng hoảng sợ!”… và rồi chúng ta chỉ nhận được những dữ liệu mà chẳng giúp gì hơn ngoài việc châm ngòi thêm nỗi sợ. Tình trạng này giống một thời điểm mà tôi còn nhớ từ hồi còn trẻ ở một nước Cộng sản: khi các cán bộ nhà nước trấn an công chúng rằng không có lý gì mà phải lo sợ, tất cả chúng ta đều coi những lời đảm bảo này như dấu hiệu cho thấy họ cũng đang hoảng sợ. Nhưng hoảng sợ không phải cách tốt để đương đầu với mối đe dọa thực sự. Khi chúng ta phản ứng trong nỗi lo sợ, chúng ta không coi mối đe dọa đó thực sự quá nghiêm trọng; chúng ta, trái lại, lại tầm thường hoá nó. Thử nghĩ xem, việc mua thừa mứa giấy vệ sinh thật nực cười làm sao: như thể mua đủ giấy vệ sinh sẽ có ích gì giữa đại dịch sinh tử này… Vậy, phản ứng thích hợp với bệnh dịch virus Corona này sẽ là gì? Chúng ta cần rút ra bài học gì và chúng ta nên làm gì để nghiêm túc đương đầu với nó?

Khi tôi cho rằng đại dịch virus Corona có thể mang một sức sống mới cho chủ nghĩa cộng sản, luận điểm của tôi (có thể lường trước được) bị chế giễu. Mặc dầu có vẻ cách tiếp cận mạnh tay của nhà nước Trung Quốc đối với khủng hoảng là hiệu quả – ít nhất cũng hiệu quả hơn nhiều những gì đang diễn ra ở Ý –, logic chuyên chế cũ của những người Cộng sản cầm quyền cũng tỏ rõ những hạn chế của nó. Một trong số đó là người ta đâm ra sợ việc mang tin xấu tới những người nắm quyền (và tới công chúng) hơn cả nhìn vào kết quả thực tế. Đây là lý do tại sao những người đưa tin đầu tiên về chủng virus mới này bị bắt, và hiện giờ vẫn có báo cáo về chuyện tương tự đang xảy ra:

“Áp lực của việc đưa Trung Quốc trở lại hoạt động sau khi phong tỏa vì virus Corona làm hồi sinh một cám dỗ cũ: làm giả dữ liệu để những cán bộ cấp cao chỉ thấy những gì họ muốn thấy. Tình trạng này đang xảy ra ở tỉnh Chiết Giang, một trung tâm công nghiệp ở bờ đông, qua những chỉ số về lượng tiêu thụ điện mà họ trình ra. Ít nhất ba thành phố ở đó đã đặt chỉ tiêu cho các nhà máy địa phương phải đạt được mức tiêu thụ điện năng theo yêu cầu, bởi theo những người vốn đã quen với cách xử lý vấn đề của chính quyền, những dữ liệu này cần trưng ra để cho thấy có sự khôi phục sản xuất ở đây. Điều này buộc một số doanh nghiệp cho chạy máy móc ngay cả khi nhà máy trống không, họ nói.”

Chúng ta cũng có thể đoán điều gì sẽ xảy ra khi những người nắm quyền biết được về sự gian lận này: các lãnh đạo cấp địa phương sẽ bị buộc tội phá hoại và bị phạt nặng, từ đó tái tạo chu kỳ bất tín luẩn quẩn… Sẽ cần có một Julian Assange của Trung Quốc để vạch trần khía cạnh che đậy của Trung Quốc trong cách họ xử lý đại dịch. Vậy, nếu đây không phải dạng chủ nghĩa Cộng sản mà tôi đang nghĩ tới, ý của tôi là gì khi nói về chủ nghĩa cộng sản? Để hiểu được, điều kiện cần là hãy đọc tuyên bố của Tổ chức Y Tế Thế giới (WHO). Đây là một tuyên bố gần đây nhất:

“Tổng giám đốc WHO, ông Tedros Adhanom Ghebreyesus, đã nói vào thứ Năm rằng, mặc dù các cơ quan y tế công trên khắp thế giới hoàn toàn có đủ khả năng để chống chọi thành công sự lây lan của virus này, WHO quan ngại rằng, ở một số quốc gia, mức độ cam kết chính trị không tương xứng với mức độ nguy hiểm của bệnh dịch. Ông Tedros nói, ‘Đây không phải là một cuộc diễn tập. Đây cũng không phải là lúc để buông xuôi. Đây không phải lúc cho những lời biện hộ. Đây là lúc làm tất cả các cách có thể. Các quốc gia đã lên kế hoạch cho những kịch bản như thế này hàng thế kỷ rồi. Giờ là lúc hành động theo những kịch bản đó.’ Ông nói thêm, ‘Đại dịch này có thể đẩy lùi được, nhưng chỉ bằng cách tiếp cận tập thể, phối hợp và toàn diện sử dụng toàn lực của bộ máy nhà nước.”

Cũng có thể nói thêm rằng, một tiếp cận toàn diện như vậy nên vươn xa hơn là chỉ một bộ máy chính quyền đơn nhất: cách tiếp cận trên nên bao gồm cả việc huy động trong nước những người không nằm trong phạm vi kiểm soát nhà nước cũng như sự điều phối và hợp tác quốc tế mạnh mẽ và hiệu quả. Nếu hàng ngàn người phải nhập viện vì những vấn đề hô hấp, sẽ cần đến một số lượng máy trợ thở tăng đột biến. Và để có được số lượng thiết bị đó, nhà nước sẽ cần can thiệp trực tiếp một cách tương tự như can thiệp trong hoàn cảnh chiến tranh, khi cần tới hàng ngàn súng ống. Và cũng nên dựa vào hợp tác với những nước khác. Cũng giống như trong một chiến dịch quân sự, nên chia sẻ thông tin và điều phối kế hoạch toàn diện – ĐÂY chính là  “chủ nghĩa Cộng sản” mà tôi nghĩ cần thiết cho ngày hôm nay, hay như cách Will Hutton từng nói: “Giờ đây, dạng toàn cầu hoá thị trường tự do không điều tiết—đi kèm với khuynh hướng xảy ra khủng hoảng và đại dịch—chắc chắn sẽ chết yểu. Nhưng một dạng toàn cầu hoá khác, dạng ghi nhận sự phụ thuộc lẫn nhau và sự ưu việt của hành động tập thể dựa trên bằng chứng, lại đang được sinh ra.” Chủ trương “ Đất nước nào cũng phải vì lợi ích của bản thân nó” vẫn đang là lập trường thống soát: “có những lệnh cấm quốc gia liên quan tới việc xuất khẩu các sản phẩm chính yếu như vật tư y tế, và mỗi nước tự tính toán, phân tích về khủng hoảng của mình trong một bối cảnh xảy ra thiếu hụt cục bộ và việc ngăn chặn dịch bệnh thì đang được đối phó bằng những cách tiếp cận nguyên thủy, không có hoạch định.”

Đại dịch virus Corona không chỉ báo hiệu hạn chế của toàn cầu hoá thị trường, nó còn báo hiệu giới hạn chí tử của chủ nghĩa dân túy dân tộc vốn kiên định quyền lực sô vanh của nhà nước. Đã hết thời “Người Mỹ (hay bất kỳ ai) trước nhất!” bởi vì nước Mỹ chỉ có thể được cứu thông qua phối hợp và hợp tác toàn cầu. Tôi không phải người theo chủ nghĩa không tưởng; tôi cũng không cố gắng bảo vệ sự đoàn kết được lý tưởng hoá giữa người với người. Trái lại, khủng hoảng hiện tại cho thấy rõ sự đoàn kết và hợp tác toàn cầu giúp phục vụ cho lợi ích sống còn của toàn thể nhân loại và từng cá nhân chúng ta, và đó là điều ích kỷ có lý duy nhất mà chúng ta nên làm. Và vấn đề không chỉ với virus Corona: Trung Quốc đã phải gánh chịu một đợt đại dịch cúm lợn khủng khiếp vài tháng trước, và giờ thì khả năng cao bị đe doạ bởi “cuộc xâm lược” châu chấu. Thêm nữa, như Owen Jones nhận định, khủng hoảng khí hậu còn giết chết nhiều người trên thế giới hơn virus Corona, nhưng không hề ai lo sợ về chuyện đó… Từ một điểm nhìn đầy hoài nghi dựa theo sinh lực luận, người ta dễ nghĩ theo hướng, virus Corona là một dạng lây nhiễm có lợi ở chỗ, nó cho phép nhân loại loại bỏ được người già, với thể trạng ốm yếu, như nhổ bỏ cây cỏ dại yếu ớt đã thối phân nửa, và vì thế đóng góp vào sức khỏe toàn cầu. Cách tiếp cận Cộng sản chủ nghĩa hiểu theo nghĩa rộng rãi này mà tôi đang ủng hộ là cách duy nhất để chúng ta thực sự bỏ lại phía sau những lập trường mang tính sinh lực luận nguyên thuỷ. Những dấu hiệu của việc hạn chế sự đoàn kết vô điều kiện có thể thấy rõ trong những tranh luận đang diễn ra, ví như trong ghi chép sau đây về vai trò của cách tiếp cận “ba nhà thông thái”3“Ba nhà thông thái” vốn được sử dụng như một thành ngữ có nguồn gốc từ một câu chuyện trong Kinh Thánh. Trong những cảnh Chúa Giê-su giáng sinh thường có ba người đàn ông mặc áo choàng cưỡi trên lạc đà. Họ “từ phương Đông đến,”đem theo vàng, nhũ hương, mộc dược, tới thăm và diện kiến Chúa hài đồng Giê-su (là Vua Do Thái Mới) vừa mới sinh trong một máng cỏ. Kinh Thánh gọi những người đàn ông này là các thầy bác sĩ, hoặc “nhà chiêm tinh”. nếu nạn dịch ở Anh chuyển hướng thảm khốc hơn: “Các bác sĩ cấp cao cảnh báo, bệnh nhân thuộc hệ thống y tế của Anh (NHS) có thể bị từ chối chăm sóc cứu nạn trong đợt bùng phát nghiêm trọng của virus Corona ở Anh, nếu đơn vị chăm sóc đặc biệt đang chật vật để đối phó với dịch bệnh. Thể theo nguyên tắc ‘ba nhà thông thái’, ba tư vấn viên cấp cao ở mỗi bệnh viện sẽ buộc phải đưa ra quyết định trong việc chia khẩu phần chăm sóc (ví dụ như máy thở và giường bệnh), trong trường hợp bệnh viện bị quá tải bệnh nhân.” “Ba nhà thông thái” này sẽ dựa trên những tiêu chí nào để đưa ra quyết định? Hy sinh những người yếu và già nhất? Liệu tình huống này có làm gia tăng tham nhũng nghiêm trọng? Chẳng phải những thủ tục này làm lộ ra rằng chúng ta đang chuẩn bị sẵn sàng thi hành một logic tàn bạo nhất, kẻ nào mạnh kẻ đó sống sót? Vậy, một lần nữa, chúng ta phải lựa chọn hoặc lập trường nói trên, hoặc một dạng chủ nghĩa Cộng sản đã được điều chỉnh.

Nhưng mọi thứ giờ đã đi xa hơn thế. Điều làm tôi thấy đặc biệt khó chịu là bằng cách nào và từ khi nào mà truyền thông công bố một quyết định tạm hoãn hay đóng cửa một cái gì đó, như một luật bất thành văn, họ thông báo kèm với một giới hạn thời gian cố định: một công thức dạng như “trường học sẽ đóng cửa tới mùng 4 tháng Tư”. Kỳ vọng ở đây là, sau đỉnh dịch đến và đi nhanh chóng, mọi thứ sẽ trở lại bình thường. Tương tự như thế, tôi được thông báo rằng hội nghị ở trường đại học sẽ được hoãn tới tháng 9… Điểm bất lợi là, thậm chí kể cả khi cuộc sống cuối cùng rồi sẽ trở lại bình thường, đó sẽ không phải là sự bình thường y hệt như ta đã từng quen thuộc trước khi xảy ra dịch bệnh: những gì chúng ta đã quá quen như một phần đời sống thường ngày sẽ không còn bị xem nhẹ nữa; chúng ta sẽ học cách sống một cuộc đời mong manh hơn, với những mối đe doạ rình rập ngay quanh mình.

Vì lý do này, chúng ta có thể kỳ vọng là đại dịch virus này sẽ ảnh hưởng tới những tương tác cơ bản nhất của chúng ta với người khác và với những đồ vật quanh ta, bao gồm cả cơ thể chính mình: tránh chạm vào những thứ có vẻ là “bẩn” (dù không thấy được), không sờ vào tay nắm cửa, không sử dụng nhà vệ sinh công cộng hay ngồi trên băng ghế của nơi công cộng, tránh ôm nhau và bắt tay nhau… Và thậm chí phải cẩn thận với việc bạn kiểm soát cơ thể và những cử chỉ tự phát: đừng chạm vào mũi và dụi mắt – ngắn gọn là, đừng chơi đùa với bản thân. Vậy, không phải chỉ nhà nước và những nhân tố khác đang kiểm soát chúng ta; chúng ta cũng nên học cách kiểm soát và giữ kỷ luật với chính mình! Có khi, chỉ còn thực tế ảo được xem là an toàn, và di chuyển tự do trong không gian mở giờ chỉ dành cho các hòn đảo của những kẻ siêu giàu.

Nhưng ngay cả thế, ở cấp độ thực tế ảo và mạng Internet, chúng ta cũng nên tự nhắc nhở mình là, trong những thập kỷ qua, cụm từ “virus” và “viral (lan truyền)” phần lớn được sử dụng cho những loại virus kỹ thuật số đang lan truyền trong không gian mạng mà chúng ta thậm chí không ý thức được, hoặc ít nhất cho tới khi quyền lực phá huỷ của chúng được giải phóng (ví dụ như khả năng hủy hoại dữ liệu trong ổ cứng của chúng ta). Thứ chúng ta hiện thấy đó là một cuộc trở lại ồ ạt về với tầng nghĩa đen nguyên thuỷ của từ này: lây nhiễm lan truyền hoạt động song song ở cả hai cạnh khía, thực và ảo.

Vì vậy, chúng ta sẽ phải thay đổi toàn bộ quan điểm của mình về sự sống, về sự tồn tại của con người như những sinh linh hiện diện giữa các thể thức sống khác. Mặt khác, nếu hiểu “triết học” mang ý nghĩa như một định hướng nền tảng về sự sống, chúng ta sẽ phải trải qua một cuộc cách mạng triết học thực sự. Có lẽ, Elisabeth Kübler-Ross sẽ giúp chúng ta nhận ra một số bài học về phản ứng của con người đối với dịch virus Corona thông qua khung phân tích nổi tiếng của bà về năm giai đoạn con người phản ứng khi biết bản thân mắc bệnh nan y. Bà viết trong cuốn “Về cái chết và sự chết” [năm giai đoạn như sau]: phủ nhận (đơn giản là từ chối chấp nhận sự thật: “Điều này không thể xảy ra, không phải với tôi”); tức giận (bùng phát khi chúng ta không thể phủ nhận sự thật nữa: “Tại sao điều này lại xảy ra với tôi?”); thương thỏa (hy vọng có thể tạm hoãn hoặc chối bỏ thực tế: “Hãy để tôi sống để thấy con cái tôi tốt nghiệp”); trầm cảm (không thiết tha sự sống: “Đằng nào cũng chết, bận tâm làm gì?); chấp nhận (Tôi không thoát được số phận, nhưng ít ra, tôi có thể chuẩn bị để đón nhận [cái chết]). Tiếp đó, Kübler-Ross áp dụng các giai đoạn này lên mọi tình cảnh mất mát thảm khốc của một cá nhân (thất nghiệp, người thân qua đời, ly dị, nghiện ma túy). Bà cũng nhấn mạnh rằng các giai đoạn không nhất thiết phải diễn ra theo thứ tự trên, và không phải bệnh nhân nào cũng đều trải qua cả năm giai đoạn này.

Người ta có thể nhận ra cả năm giai đoạn trên bất kể khi nào xã hội phải đối mặt với một sang chấn nào đó. Thử lấy ví dụ về mối nguy từ các thảm họa sinh thái: trước tiên, chúng ta có xu hướng phủ nhận (tất cả chỉ là hoang tưởng, những gì diễn ra chỉ là hiện tượng dao động thời tiết thông thường); sau đó là tức giận (trút lên các tập đoàn lớn vì gây ô nhiễm môi trường, hoặc lên chính phủ vì phớt lờ các mối hiểm hoạ), tiếp theo là thương thỏa (nếu tái chế rác thải, chúng ta có thêm thời gian [để đối phó với thảm hoạ]; ngoài ra, còn có thể trồng rau ở Greenland, tàu sẽ vận chuyển hàng hóa từ Trung Quốc đến Mỹ nhanh hơn thông qua tuyến đường biển phía Bắc, phía bắc Siberia sẽ xuất hiện những vùng đất màu mỡ mới do băng tan); rồi giai đoạn trầm cảm (quá muộn rồi, chúng ta chết chắc…); và cuối cùng, chấp nhận: con người đang đối phó với một hiểm hoạ nghiêm trọng và chúng ta phải thay đổi toàn bộ lối sống của mình!

Khung tư duy trên có thể được sử dụng để phân tích nguy cơ tiềm tàng từ cơ chế kiểm soát kỹ thuật số đối với cuộc sống của chúng ta: đầu tiên là xu hướng phủ nhận (tất cả chỉ là sự cường điệu hoá, sự hoang tưởng của phe cánh tả, không một cơ quan nào có thể kiểm soát hoạt động hàng ngày của chúng ta); sau đó là sự tức giận bùng phát (đối với các công ty lớn và các cơ quan nhà nước bí mật vốn biết rõ về chúng ta hơn cả chúng ta và chúng sử dụng kiến ​​thức này để kiểm soát và thao túng nhân loại), sau đó là thương thỏa (chính quyền có quyền kiếm tìm những tên khủng bố, nhưng không được xâm phạm đến quyền riêng tư), trầm cảm (tất cả đã quá muộn, quyền riêng tư đã bị xâm phạm, thời kỳ của tự do cá nhân đã chấm dứt) và cuối cùng, chấp nhận: kiểm soát kỹ thuật số là mối đe dọa đối với quyền tự do cá nhân; chúng ta nên loan tin để công chúng biết được tất cả chiều kích của cơ chế [kiểm soát kỹ thuật số] và cùng chống lại nó!

Ngay trong lĩnh vực chính trị, khung tư duy của Kübler-Ross cũng có thể được áp dụng với những ai trải qua sang chấn dưới nhiệm kỳ của tổng thống Mỹ Trump: đầu tiên, phủ nhận (đừng lo, Trump chỉ là một kẻ bù nhìn, sẽ không có gì thay đổi nếu hắn ta nắm quyền), sau đó là tức giận (đối với các thế lực đen tối giúp Trump nắm giữ quyền lực, lên những người theo chủ nghĩa dân túy ủng hộ hắn làm lay chuyển hệ giá trị đạo đức của chúng ta), thương thỏa (chúng ta chưa mất tất cả, [quyền lực của] Trump có thể bị kiềm tỏa, hãy chấp nhận một số hành động của hắn) , trầm cảm (chúng ta đang tiến gần hơn tới Chủ nghĩa phát xít, nền dân chủ của Mỹ đang dần tiêu biến) và chấp nhận: một chế độ chính trị mới ở Mỹ đã xuất hiện, thời kỳ thịnh vượng của nền dân chủ Mỹ đã qua, chúng ta phải đối mặt với các nguy cơ và bình tĩnh lên kế hoạch để vượt qua chủ nghĩa dân túy của Trump…

Vào thời trung cổ, trong các thị trấn bị nhiễm bệnh,  người dân có những phản ứng tương tự đối với các dấu hiệu của bệnh dịch hạch: đầu tiên là phủ nhận, sau đó là tức giận (đối với cuộc sống đầy tội lỗi mà con người đang phải trả giá, hoặc thậm chí tức giận với Chúa nhẫn tâm vì đã cho phép nó xảy ra), tiếp đó là thương thỏa (không lo, chỉ cần ta tránh những người nhiễm bệnh), sau đó là trầm cảm (cuộc sống của chúng ta đến đây là kết thúc), sau đó một điều thú vị xảy ra: những cơn khoái cảm xuất hiện (vì chúng ta sắp chết, hãy tận hưởng tất cả những thú vui khi còn có thể – uống rượu, làm tình,…) và cuối cùng là sự chấp nhận: chúng ta đã sống sót, hãy hành xử như thể cuộc sống vẫn đang tiếp diễn bình thường…

Và đây chẳng phải là cách chúng ta đang đối phó với dịch virus Corona bùng phát vào cuối năm 2019 sao? Thoạt tiên là sự phủ nhận (không có gì nghiêm trọng đang diễn ra, một số cá nhân vô trách nhiệm chỉ đang lan truyền sự hoảng loạn); tiếp theo, sự tức giận (thường được thể hiện qua việc phân biệt chủng tộc hoặc chống đối nhà nước: người Trung Quốc đê tiện có tội, nhà nước làm việc không hiệu quả,…); tiếp sau là thương thỏa (Thôi được rồi, dù đã có một số nạn nhân nhưng COVID-19 ít nghiêm trọng hơn SARS, và chúng ta có thể giảm thiểu được thiệt hại…); Đến giai đoạn này nếu vẫn chưa đủ, giai đoạn trầm cảm bắt đầu (Cợt nhả gì nữa, chúng ta chết chắc rồi). Thế còn giai đoạn chấp nhận sẽ trông như thế nào trong trường hợp này? Một thực tế kỳ lạ là dịch bệnh có chung đặc điểm với các cuộc biểu tình nổi lên gần đây (ở Pháp, ở Hồng Kông…): các hiện tượng này không chỉ bùng lên rồi hết; chính xác hơn, chúng vẫn dai dẳng qua tháng ngày, khiến cuộc sống đầy ắp những nỗi sợ và sự bấp bênh tưởng chừng như vô tận. Tuy vậy, sự chấp nhận này mở ra hai ngã rẽ. Một là sự tái bình thường hoá của bệnh tật: Thôi được rồi, con người sẽ chết dần, nhưng cuộc sống sẽ tiếp tục, thậm chí điều này có thể sinh ra một số “tác dụng phụ” hữu ích. Hoặc, sự chấp nhận có thể (và nên) thúc đẩy con người huy động nguồn lực của mình nhưng không hoảng loạn và hoang tưởng nhằm hành động trong tình đoàn kết tập thể.

Những gì chúng ta nên chấp nhận, những gì chúng ta nên hòa giải với chính mình nằm ở tầng thứ cấp của sự sống, đó là vòng đời bất tử, lặp đi lặp lại một cách ngu ngốc, tiền dục tính của loài virus. Vòng đời của loài virus sẽ luôn luôn tồn tại và ẩn mình như cái bóng, rình rập đe dọa sự sống của con người, bùng nổ khi chúng ta ít mong đợi nhất. Ở một cấp độ rộng hơn, bệnh dịch như một lời nhắc nhở về sự rủi may và vô nghĩa mang tính căn đế của sự sống: cho dù  nhân loại xây được những miếu thờ tự tâm linh lộng lẫy, một yếu tố tự nhiên ngu ngốc như virus hay [va chạm từ] một tiểu hành tinh có thể huỷ diệt mọi thứ… Đấy là chưa đề cập đến bài học sinh thái mà nhân loại cũng vô tình đóng góp cho bi kịch này.

Để làm rõ hơn luận điểm trên, cho phép tôi không ngại ngùng dẫn ra một định nghĩa phổ biến: “[virus là] bất cứ tác nhân truyền nhiễm nào, thường có kích thước siêu hiển vi, cấu tạo gồm có axit nucleic, hoặc RNA hoặc DNA, nếu trường hợp là chuỗi protein: virus lây nhiễm cho động vật, thực vật và vi khuẩn, và chỉ sinh sản trong các tế bào sống: virus được coi là các đơn vị hóa học vô cơ hoặc, đôi khi, hữu cơ. Trạng thái dao động giữa sự sống và cái chết rất quan trọng: virus không “sống hay chết” theo nghĩa thông thường. Virus là loài xác sống: một loại virus còn sống được là do xu hướng tự nhân lên, song đó chỉ là một trạng thái tồn tại ở mức tối thiểu nhất, một bức tranh biếm họa sinh học, không về cái chết, mà nhiều hơn về sự sống ở mức độ lặp lại và nhân lên một cách ngu ngốc nhất. Tuy nhiên, virus không phải là một thực thể sống cơ bản mà nhờ đó các thực thể phức tạp hơn phát triển. Virus thuần tuý là ký sinh trùng; chúng tự nhân lên thông qua việc lây nhiễm cho các sinh vật phát triển hơn (khi virus lây nhiễm cho  con người, chúng ta đơn giản chỉ đóng vai trò như cái máy sao chép virus). Chính trong sự trùng hợp ngẫu nhiên của các chiều kích đối lập – nguyên sinh và ký sinh – lại ẩn chứa bí ẩn của loài virus: chúng là một trường hợp mà Schelling gọi là “der nie aufhebbare Rest“, tức phần dư thừa lại của dạng sống ở bậc thấp nhất, nảy sinh như là sản phẩm do lỗi vận hành của các cơ chế nhân bội ở bậc cao hơn và chúng tiếp tục ám ảnh (lây nhiễm) những dạng sống cao hơn này,  phần dư thừa không bao giờ có cơ hội được hòa nhập vào dạng sống bậc cao như là cấp dưới của nó.

Ở đây, chúng ta đối diện với điều mà Hegel gọi là “phán đoán tư biện” (speculative judgment) – sự khẳng định về căn tính của cái cao nhất và thấp nhất. Ví dụ nổi tiếng nhất của Hegel là “Tinh thần là một khúc xương”, lấy từ phân tích não tướng học của ông về Hiện tượng học Tinh thần, còn ví dụ của chúng ta nên là “Tinh thần là một loài virus”. Có phải thế giới tinh thần của con người cũng là một loài virus nào đó ký sinh trên “động vật” con người, lợi dụng thân xác con người để tự sinh sôi và đôi khi đe dọa sẽ huỷ diệt thân xác đó? Và, trong phạm vi là phương tiện của tinh thần là ngôn ngữ, chúng ta không nên quên rằng ở cấp độ cơ bản nhất, ngôn ngữ cũng có tính cơ học, vốn bao gồm các quy tắc chúng ta phải học và tuân theo. Richard Dawkins tuyên bố rằng memes4Theo từ điển Merriam-Webster, meme là một quan niệm, hành vi, hoặc phong cách lan truyền từ người này sang người khác trong một nền văn hóa — thường với mục đích chuyển tải một hiện tượng, chủ đề, hoặc ý nghĩa cụ thể do meme đại diện. Từ meme có nguồn gốc từ cuốn The Selfish Gene (Gen vị kỉ) của tác giả Richard Dawkins xuất bản năm 1976. là những con “virus của tâm trí”, những thực thể ký sinh thuộc địa hoá tâm trí con người, sử dụng tâm trí như một phương tiện để tự nhân lên. Đó là ý tưởng mà người khởi xướng, không ai khác ngoài, Leo Tolstoy. Tolstoy thường được coi là một tác giả ít thú vị hơn Dostoyevsky. Tolstoy là một nhà hiện thực lỗi thời vô vọng, về cơ bản là không có chỗ trong thời hiện đại, trái ngược với nỗi thống khổ hiện sinh của Dostoyevsky. Tuy nhiên, có lẽ đã đến lúc cần khôi phục lại đầy đủ các lý thuyết nghệ thuật và nhân văn độc đáo của Tolstoy nói chung, ở đó ta như nghe thấy sự cộng hưởng với quan điểm của Dawkins về memes. “Con người là loài vượn nhân hình với bộ não bị truyền nhiễm, vật chủ cho hàng triệu cộng sinh văn hóa, và những yếu tố tạo ra chúng là những hệ thống cộng sinh được gọi là ngôn ngữ” [2] – chẳng phải đoạn văn lấy từ Dennet này không mang tinh thần Tolstoy thuần khiết hay sao? Phạm trù cơ bản trong tư tưởng nhân học của Tolstoy là sự lây lan: chủ thể con người là một trung gian rỗng, thụ động, bị lây lan các yếu tố văn hóa nặng tính xúc cảm, giống như trực khuẩn truyền nhiễm, lan từ cá nhân này sang cá nhân khác. Từ đây, Tolstoy đi đến cùng mạch tư duy của mình: ông không đối chọi sự lây lan cảm xúc này với một sự tự trị tâm linh đích thực; ông không đề xuất một nhãn quan sử thi về việc giáo dục bản thân nhằm trở thành một chủ thể đạo đức tự trị trưởng thành bằng cách loại bỏ trực khuẩn lây nhiễm. Cuộc đấu tranh duy nhất là cuộc đấu tranh giữa sự lây lan tốt và xấu: Cơ đốc giáo là một sự lây lan, nếu không muốn nói là là sự lây lan tốt, đối với Tolstoy.

Có lẽ, đây là điều nhức nhối nhất mà chúng ta có thể học được từ đại dịch virus đang diễn ra: khi thiên nhiên tấn công chúng ta bằng virus, thiên nhiên gửi trả lại thông điệp của chúng ta cho chính chúng ta. Thông điệp đó là: ăn miếng, trả miếng.

Chú thích:
[1] Benjamin Bratton, personal communication.
[2] Daniel Dennett, Freedom Evolves, London: penguin Books 2004, p. 173.

Võ Tuấn Sơn & Đỗ Thu Vân dịch
Nguồn: MONITOR AND PUNISH? YES, PLEASE! | thephilosophicalsalon.com

Leave a Comment