Sử dụng “Những Huyền Thoại”

Tựa đề cuốn “Những Huyền Thoại” của Roland Barthes, cuốn sách mới được dịch lại (bản tiếng Anh) bởi Richard Howard và Annette Lavers, có thể dẫn đến sự hiểu nhầm về thuật ngữ. Trong tập hợp 53 bài nghiên cứu ngắn về văn hoá và truyền thông đại chúng Pháp được viết từ năm 1954 đến 1956 này không hề có Sisyphus hay Oedipus, cũng không hề có những ý niệm về huyền thoại (myth) là nền tảng tự sự của tôn giáo. Và thậm chí cũng không có những sự bác bỏ những giả định thường thấy bị lồng ghép dưới khái niệm huyền thoại (ví dụ như một huyền thoại về Catherine Đại Đế). Chủ thể nghiên cứu của nó là những thông điệp (nhìn rộng ra là những thông điệp chính trị) đang được lan truyền và củng cố bởi truyền thông. Một tựa đề có thể cùng đồng thời được đưa ra cùng với tựa đề gốc có thể là “Bạn đã bị tẩy não!”

Dưới tham chiếu phân tích ngôn ngữ mượn từ lý thuyết gia Ferdinand de Saussure, Barthes đưa ra sự buộc tội một cách kỳ lạ nhưng giản dị tương đồng với cái mà Marx gọi là “Nhận thức sai lầm (False Consciousness), và cũng mượn từ Marx, ông hé lộ sự độc ác nằm sau tấm màn – nó không phải một con người, nó là cả một giai cấp. Có lẽ không có từ nào xuất hiện trong cuốn sách với mật độ dày hơn từ “tư sản (bourgeois), một từ mà độc giả có thể thay thế là “tệ”, và đối với “tiểu tư sản (petit bourgeois)” là “siêu tệ”. Với tính dự đoán phân tích và mục tiêu của khung phân tích ý thức hệ của cuốn sách được đưa ra, thật thú vị, và thậm chí là truyền cảm hứng khi cân nhắc về những hoàn cảnh mà cuốn sách đưa ra, và đặt câu hỏi “tại sao lại thế?”.

Vào những năm 60, nước Pháp đang trải qua một cuộc bùng nổ về kinh tế, một sự dịch chuyển xã hội và một cuộc khủng hoảng về chính trị. Đòn bẩy quyền lực ra tăng, và cùng với nó là đòn bẩy về những thực hành như sản xuất công nghiệp hay quảng cáo. Những bộ phim điện ảnh (một số của Hollywood) cực kỳ thịnh hành (và chính ở đó, không phải trên TV, mới là nơi mọi người xem quảng cáo). Một thế hệ trẻ lớn lên với những kỳ vọng về giải trí và thư giãn tăng dần cùng với sự chuyển dịch tiêu thụ văn hoá của họ. Về khía cạnh chính trị, nước Pháp lại tham gia vào chiến tranh để phục hưng vị trí Đế Quốc của họ: họ thua cuộc chiến 8 năm ở Việt Nam vào năm 1954, và ngay trong năm đó, thực hiện thêm một cuộc chiến để dẹp bỏ phong trào giành độc lập của Algeria (cuộc chiến đó cũng kéo dài 8 năm với kết thúc là Algeria giành độc lập). Sự đồng lòng neo bám vào cái mác đế quốc lan toả từ phong trào Cực Hữu của Pierre Poujade cho tới Đảng Cộng sản Pháp.

Đó là điều kiện khiến cho “những huyền thoại” nảy nở một cách mạnh mẽ nhất. Barthes là một người đối lập một cách cực đoan nhất với chủ nghĩa thực dân Pháp, và bài tiểu luận mạnh mẽ nhất trong cuốn sách – “Ngữ pháp Phi Châu (African Grammar)” làm lộ ra những hùng biện của chủ nghĩa thuộc địa được nhúng vào báo chí đại chúng dưới danh nghĩa báo chí khách quan. Nhưng điều này không thôi chưa biến cuốn sách trở thành một kinh điển.

Barthes bàn về truyền thông đại chúng vào đúng thời đại bùng nổ của nó, và khai mở chủ thể này như một vấn đề của tư duy triết học. Có lẽ “Những Huyền Thoại” là cuốn sách nền tảng của ngành Nghiên cứu Truyền thông (Media Studies), sau đó cái “tông” của cuốn sách được gợi nhớ lại thông qua tác phẩm “Ninotchka” của Greta Garbo khi xem xét chiếc mũ haute-couture hiện đại. Cuốn sách không đưa ra bất cứ một sự đánh giá cao nào cho những giá trị nghệ thuật và thẩm mỹ được đưa ra bởi truyền thông đại chúng (trừ bài về đấu vật mà trong tiểu luận đầu tiên trong cuốn sách, ông cho nó khá nhiều sự khoan dung). Không có thuyết động lực trong những phân tích của ông, ông biến cái biểu đạt (signifiers) và cái được biểu đạt (signifieds) thành những thể tĩnh – và cũng không có chiều kích tâm lý học – không có tính tự chủ (agency) và những động cơ hơn là sự tự làm trường tồn và vĩnh viễn của xã hội tư sản.

Phương pháp của ông thật tài tình: bằng cách phân tích truyền thông thị giác và những hiện tượng thực hành trên khía cạnh ngôn ngữ học, ông dành riêng chúng chỉ cho chính ngôn ngữ; bằng cách biến ngôn ngữ học trở thành nền tảng của những phân tích chính trị-xã hội về thế giới, ông định nghĩa động năng của sự phân tích này như một hành động luỹ tiến triệt để. Sự kiêu căng đến trác tuyệt – sự lật ngược những vai trò mà những người sản xuất hình ảnh và diễn cảnh của những cuốn sách và những đồ chơi đang được xoay quanh đang trở thành những con tàu tiêu cực chuyên chở những lý luận tiềm tàng và những nhà phân tích theo chủ nghĩa Barthes trở thành những nhà cách mạng, dựa trên lời hiệu triệu của cuốn sách.

Mục tiêu chính yếu của Barthes là quá trình nhào nặn – chính là văn học. Bài tiểu luận kết của ông kết thúc với lựa chọn quả quyết – “ý thức hệ hoá” hay “thơ hoá”. Nhưng có sự khác biệt lớn giữa hai lựa chọn đó: một người có thể ý thức hệ hoá bằng những phương tiện ý chí chính nó, trong khi sự kiến tạo thơ ca cần một thứ gì đó như tài năng; một người có thể làm theo phương pháp luận như một lựa chọn, những không thể quyết định tạo ra một phong cách; một người có thể học hỏi và nghiên cứu, nhưng họ không thể có ý chí biến chính họ trở thành một trải nghiệm. Đó là sự đảo ngược mà Barthes đã đạt được trong những huyền thoại dựa vào những lời hiệu triệu của tác phẩm.

Ông muốn tác động của tác phẩm là đưa ra vấn đề mà không cần phải trình diễn; ông chiến đấu cho một nền văn chương thay vì nảy sinh từ kinh nghiệm hay cảm hứng, được kiến tạo nên bởi những thành trì của phân tích lý thuyết. Dõi theo Barthes, một vài thế hệ sau đi theo những thực hành phê phán mà phiên bản tốt nhất của nó là có thể tạo ra thêm khảo liệu.

Vì thế Barthes có được sự trọng vọng từ những nhà phê bình văn học tốt nhất như Edmund Wilson hay Lionel Trilling, những người dành sự tôn trọng cơ bản tới văn học giữ thực hành phê phán của họ ở vị trí thứ bậc lần hai (second-order position, đối chiếu với second-order signification của Roland Barthes) đối với tiểu thuyết, thơ ca và kịch ở góc nhìn của họ. Bằng cách đưa một thứ gần như là khoa học (ở đây hiểu là tính hệ thống, vì ngành nhân văn không có nghĩa vụ phải chứng minh tính khoa học của nó) vào trung tâm của những phê phán cương nghị của ông – một thứ “khoa học” mà, không giống như những lý thuyết hoá sinh, không thể được xác nhận thông qua trải nghiệm, nhưng khi làm theo những phương pháp này có thể làm lộ ra những ý định chính trị – Barthes vì thế “dịch” cả sự không thể công kích từ lớp người mà thẩm mỹ của họ đã được hợp lý hoá bằng những nền tảng chủ quan, và cũng đồng thời dịch chúng ra thành những sự thật có thể được tái sản xuất vĩnh viễn. Thành tựu vĩ đại của Barthes là cho độc giả một tình yêu tới văn học và ham muốn viết văn nhưng có lẽ không có năng lực để tuân theo cái công thức của nó – một cách sản xuất thay thế mà từ đó họ có thể giới thiệu những công trình thứ bậc hai mà có thể được tung ra như những công trình thứ bậc lần một và có thể đạt tới cùng một thứ bậc với quyền lực xã hội mà những nhà văn từ trước đã đạt được đến nó bằng văn học.

Và lý do phương pháp tiếp cận của ông đạt được tầm ảnh hưởng như vậy là chính Barthes cũng là một người tuyệt vời – một con người của văn học dù không sáng tác văn học. Những ví dụ ông cung cấp cho những người theo ông (đó cũng là lý do vì sao sinh viên ngành nhân văn theo ông nhiều đến vậy) là những ví dụ quá tuyệt vời. Bằng cách chỉ ra những “mùi thối” của văn hoá đại chúng, Barthes có thể xếp ông là một ai đó hơn là một nhà hàn lâm trưởng giả, như ai đó sống bên trong một hiện thực tàn nhẫn và hoang dã và quan tâm đến việc lấy những trải nghiệm văn hoá thực tế làm chất liệu để viết nên văn chương. Ông đi xuyên qua những sản phẩm văn hoá đại chúng nhưng đi qua đó theo cái nghĩa ông không thể bị lừa phỉnh bởi nó – ông ở giữa chúng nhưng không phải chúng, vị trí nắm giữ những bùa mê rõ ràng cho những kẻ tư duy non nớt không thể thoát khỏi sự bão hoà vào bên trong chúng, và sau cùng, trở thành một trong những độc giả trung thành của chúng.

So sánh góc tiếp cận với góc tiếp cận truyền thông đương đại của Barthes với góc tiếp cận của những người đi sau ông, những người viết Cahiers du Cinéma về điện ảnh, và một cách đặc biệt, về phim Hollywood. Những nhà phê bình này, những tương lai của Làn Sóng Mới, nhận thấy rằng có nhiều thiên tài về nghệ thuật làm việc gần như không hề vì lợi nhuận (bản gốc: commercial near-invisibility) như Alfred Hitchcock, Howard Hawks, và Nicholas Ray, cũng như những thiên tài làm việc trong trách nhiệm ở châu u như Roberto Rossellini và Max Ophuls. Nhưng Barthes chỉ thấy đây là sự lý luận một chiều (indoctrination), và làm hiển lộ cái ông gọi là “huyền thoại về những thiên tài”.

Trong kỷ nguyên mà truyền thông đại chúng “mến khách” hơn tất thảy đối với những nghệ sĩ độc đáo, cá nhân và có tư chất, nỗi sợ bị bịp bởi truyền thông lớn hơn bao giờ hết. Khi lãnh địa của sáng tạo nghệ thuật cũng như những nghiên cứu về sự kiến tạo và những điều kiện tiền đề của nó được mở rộng, chiều sâu của tư duy học thuật và phê phán đối với sự sáng tạo nghệ thuật đại chúng làm khó những người sáng tạo theo kiểu cúi đầu và ra vẻ cố gắng dù không hề mạo hiểm và chịu rủi ro. Không bất ngờ là ngay cả khi những thứ được gọi là “Lý thuyết Pháp” rút lui khỏi vũ đài phê bình văn hoá thì “Những Huyền Thoại” vẫn giữ vững được chỗ đứng của nó.

Nguồn: Richard Brody – The New Yorker https://www.newyorker.com/culture/richard-brody/the-uses-of-mythologies

Leave a Comment