Timothy Brook – Đổ lỗi cho Trung Quốc? Sự bùng phát của Đông phương luận, từ nạn dịch hạch đen đến virus corona

Có nhiều điều kiện ở Châu Á làm người dân dễ chịu tổn thương trước những loại bệnh tật mới và lạ qua các thế kỉ. Chúng ta cần sáng suốt để rút ra bài học kinh nghiệm từ thực tế này và vứt bỏ những nỗi sợ mang đầy định kiến.

BRIDGEMAN IMAGES
Một tờ báo của Pháp tên là Le Petit đã vẽ minh hoạ cảnh thần chết mặc áo choàng đỏ đang tàn phá Mãn Châu trên bìa một ấn bản năm 1911. Sự bùng phát của đại dịch viêm phổi năm 1910-11 ở Mãn Châu được cho là bắt nguồn từ động vật. Điều này củng cố thêm tự sự của phương Tây về Trung Quốc như nguồn cội của các căn bệnh chết người.

Vào ngày 17 tháng 8 năm 1348, Giám mục xứ Bath và Wells đã viết thư cảnh báo các phó giám mục của mình về một đại dịch sắp ập đến. Mọi người đều phải cầu nguyện với Chúa để Ngài ban không khí trong lành, bằng không, bệnh dịch sẽ huỷ hoại người Anh y như cách chúng đang làm tê liệt nước Pháp. Giám mục gọi nạn dịch hạch này là căn bệnh từ phương Đông. Một số người chỉ điểm cụ thể hơn nguồn gốc của bệnh dịch. Một quan sát viên người Anh khẳng định bệnh dịch đến từ Thổ Nhĩ Kỳ. Người khác thì chỉ đích danh bệnh dịch khởi nguồn từ Ấn Độ. Gần thời điểm khi các biến cố xảy ra hơn, các sử gia ở Aleppo và Cairo thì cụ thể hơn nữa, tuyên bố rằng bệnh dịch phát sinh từ vương quốc Mông Cổ. Tùy thuộc việc chúng ta đang ở đâu -Cairo hay Bath – thì nơi được xem là điểm bắt đầu của nạn dịch sẽ khác nhau. Song điều đó hầu như không quan trọng. Một điều kinh khủng như thế chỉ có thể xuất phát từ phương Đông.

Khi chân trời Châu Á của phương Tây được mở rộng từ Mông Cổ sang Trung Quốc, Trung Quốc được cho là nơi bùng phát của nhiều bệnh dịch. Khi Đại dịch hạch lần thứ ba lan rời bến Hương Cảng vào năm 1894 từ đó lây nhiễm ra hầu khắp thế giới, ai cũng nghĩ những thảm họa như thế chỉ có thể nảy sinh từ Trung Quốc. Người ta không đổ lỗi dịch cúm Tây Ban Nha 1918-19 cho Trung Quốc, mặc dù theo Mark Humphries tại Đại học Memorial, nghiên cứu mới đây cho rằng người lao động Trung Quốc xuất dương sang phương Tây, phục dịch ở hậu phương Thế chiến thứ nhất có thể đã mang virus cúm đến châu Âu. Trong một phần tư thế kỷ qua, các đại dịch bùng nổ dường như củng cố thêm định kiến về Trung Quốc là nguồn cội của bệnh dịch. Cúm gia cầm H5N1 lan ra khỏi Trung Quốc vào năm 1997, một lần nữa qua Hongkong và giết chóc hơn một nửa số người nhiễm bệnh. Năm năm sau, SARS (hội chứng hô hấp cấp tính nặng) xuất hiện. SARS không nguy hiểm như H5N1 nhưng trung bình cứ mười người nhiễm thì một người chết, dẫn đến tổng số 774 ca tử vong. Dịch bệnh virus Corona dường như còn ít nguy hiểm hơn SARS, mặc dù thực tế là từ một tuần trước, tỉ lệ người tử vong đã vượt qua thời kỳ SARS, và con số đó vẫn đang gia tăng. Đây là điều đáng lo ngại.

LOOK AND LEARN
Một chế bản năm 1894 từ The Graphic – một tờ báo của nước Anh – phác họa cảnh nạn dịch hạch ở Hương Cảng (lúc bấy giờ vẫn là thuộc địa của thực dân Anh).

Vì sao Trung Quốc lại bị đổ lỗi là nơi khởi nguồn của các đại dịch toàn cầu? Đó có phải chỉ là một thói quen xấu từ truyền thống Đông Phương Luận, được nối dài từ thời kỳ mà chúng ta sợ những nơi xa xôi nhất, và còn gì xa xôi hơn Trung Quốc? Điều này đúng một phần, nhưng không hoàn toàn như vậy. Có những điều kiện ở Trung Hoa có thể tác động đến môi trường dẫn đến sự bùng phát thứ gì đó mà chúng ta không thể chịu nổi.

Trước khi y học phương Tây xuất hiện, các bác sĩ Trung Quốc quan tâm về sức khỏe công cộng đã cảm nhận được những điều kiện trên và tìm cách khắc phục chúng. Xem thế giới như một vũ trụ thống nhất giữa trời, đất và con người, họ tin rằng việc phá vỡ một mắt xích ở nơi này sẽ gây ra sự đứt gãy, hỗn độn ở nơi khác. Wu Xuanchong, tác giả của Báo cáo tổng hợp về dịch bệnh chuột, một cuốn sách giáo khoa về bệnh dịch được viết vào năm 1891, hình dung căn bệnh này là hơi ấm bốc lên từ mặt đất, đi vào cơ thể qua đường miệng và mũi. Wu viết rằng để bảo vệ con người, cần tăng cường lớp ngăn cách giữa người và đất. Ông đưa ra một danh sách các giải pháp: quét nhà và sân, ngủ không nằm đất, đi giày, lợp gạch ngói cho sàn nhà, đảm bảo khu vực sinh hoạt thông thoáng. Các biện pháp vệ sinh này là lời khuyên hợp lý cho một căn bệnh mà chúng ta đến giờ đã biết ở giai đoạn đầu, bệnh được lây từ một loài bọ chét gặm nhấm có chất độc cắn vào vật chủ là con người. Giải pháp này làm chuột không còn đất sống, đồng nghĩa với việc bọ chét bị trừ khử.

Người Trung Quốc gọi căn bệnh này là “đại dịch chuột” vì họ thấy chuột chết với số lượng lớn trước khi người cũng chết. Vì chuột sống ở mặt đất, gần với nguồn bệnh hơn, Wu kêu gọi lập một lớp ngăn cách thứ hai: giữa người và động vật. Ông viết rằng bất kể thế nào cũng cần tránh tiếp xúc với chuột bị nhiễm bệnh. Nếu thấy một con chuột chết, đừng chạm vào nó. Mang chôn những con chuột chết, nhưng phải chắc chắn bịt mũi và quay mặt đi để không hít hơi độc của chúng. Lại là một lời khuyên tuyệt vời. Wu không biết gì về công trình phát hiện vi khuẩn gây bệnh của Louis Pasteur. May mắn thay, Alexandre Yersin, một nghiên cứu sinh người Thụy Sĩ làm việc dưới sự hướng dẫn của Pasteur, được mời đến Hương Cảng vào năm 1894 để điều tra bệnh dịch chuột trong khi Wu đang kêu gọi người dân thực hiện các biện pháp phòng ngừa. Sử dụng công nghệ tiên tiến lúc đó là kính hiển vi, Yersin đã phân tách vi khuẩn bệnh dịch trong một túp lều ở Hương Cảng. (Tên của vi khuẩn đó được đặt tên là Yersinia Pestis như là cách ghi nhận công lao của Yersin). Đối với Wu, khi hít những vi khuẩn này vào phổi, vi khuẩn sẽ xâm nhập vào máu và khiến chúng ta nhiễm bệnh.

BUYENLARGE ARCHIVE
Một hướng dẫn giáo dục công cộng ở thế kỷ 20 của Trung Quốc cho thấy quá trình bệnh dịch lây lan qua chuột và bọ chét, cùng lời khuyên về cách bẫy chuột và xử lý rác thải và thực phẩm để ngăn chặn bệnh dịch quay trở lại.
Các nhân viên y tế Trung Quốc thực hiện một cuộc diệt chuột tại chợ động vật hoang dã ở Quảng Châu vào năm 2004 trong đợt bùng nổ dịch SARS.

Virus tấn công con người khác vi khuẩn; dù vậy, cảnh báo về việc giữ lớp ngăn cách giữa người và động vật hoang dã vẫn giữ nguyên. Một cách công bằng mà nói ở Trung Quốc, lớp ngăn cách đó không phải bất khả xâm phạm. Y học Trung Quốc ủng hộ quan điểm thịt và sừng của động vật hoang dã có giá trị trị liệu. Niềm tin này tạo điều kiện để người ta tiêu thụ bộ phận cơ thể của động vật hoang dã nhằm tăng cường sinh lực. Hãy để trí tưởng tượng bay xa với rắn và dương vật hươu, và điều đó sẽ sáng tỏ. Tuynhiên, chế biến và tiêu thụ động vật hoang dã làm yếu đi lớp ngăn cách giữa nhóm gien của động vật và con người. Con người và động vật đã luôn sống tách biệt. Vì vậy, động vật mang ký sinh trùng mà bộ gien người chưa có sự thích nghi. Một loài gặm nhấm có thể cộng sinh với bệnh dịch, nhưng ăn thịt động vật gặm nhấm bị nhiễm bệnh và ăn ký sinh trùng ở trong nó có thể khiến bạn trở thành vật chủ mới. Do đó, dơi có thể sống với các chủng virus SARS; con người thì không.

SARS và các bệnh dịch khác là những căn bệnh mà con người có thể bị nhiễm, nhưng chúng không bắt nguồn từ con người. Cả hai loại virus đều không muốn lây nhiễm cho con người, bởi vì nếu làm vậy, rất có thể virus sẽ chết và [việc xâm nhập cơ thể con người] là tự sát. Với các cơ quan đặc thù, những loài ký sinh trùng này ưa chuộng môi trường sống tự nhiên của chúng hơn. Tuy nhiên, đôi khi các điều kiện môi trường thay đổi buộc chúng phải tìm vật chủ mới, và vật chủ này có thể không có khả năng cộng sinh. Chủng mới nhất của virus Corona, 2019-nCoV, được Tổ chức Y tế Thế giới đổi tên thành COVID-19 vào thứ ba, là chị em họ xa của SARS. Về mặt di truyền, mối liên hệ gần nhất của COVID-19 là các virus từ dơi khác. Virus này không tìm kiếm con người để lây nhiễm và huỷ hoại cơ thể họ. COVID-19 sẽ xâm chiếm cơ thể con người nếu chúng ta tình cờ tiếp xúc với chúng, nhưng virus sẽ ưa kí sinh lại trong cơ thể con dơi hơn. Tuy nhiên, điều gì đó đã xảy ra khiến chủng virus này bỏ qua lớp ngăn giữa động vật và con người, và lây nhiễm thông qua một loài động vật có vú khác đã vô tình mang virus trong cơ thể. Trong trường hợp của SARS, cầy hương được phục vụ trong một nhà hàng ở Quảng Châu đã tạo mối liên hệ để chúng ta tìm ra virus này ở loài dơi. COVID-19 bắt nguồn từ một chợ cá ở Vũ Hán, và ngay kế bên là khu kinh doanh động vật hoang dã. Một số loài vật đáng thương bị bán ở đó, sống hay chết hay vẫn chưa xác định được, mặc dù có thể là một con thú ăn kiến ​​có vảy gọi là tê tê (pangolin), đã gián tiếp chuyển giao giữa các loài sinh vật. Và giờ đây, con người đang chết dần.

Bác sĩ Lý Văn Lượng đeo mặt nạ phòng độc tại bệnh viện Vũ Hán sau khi anh bị nhiễm virus Corona, anh đã cố gắng cảnh báo chính quyền. Tuy nhiên, cảnh sát lại phạt anh ta và nói rằng anh ta đang tuyên truyền thông tin sai sự thật. Anh qua đời vào ngày 7/2.

Các quan sát viên nước ngoài đã có nỗ lực đáng ghi nhận khi không đổ lỗi choTrung Quốc về sự bùng phát của virus Corona. Rõ ràng, chính phủ Trung Quốc đã rút ra bài học kinh nghiệm đau thương khi xử lý khủng hoảng SARS cách đây 17 năm, hoặc có thể chúng ta muốn nghĩ như thế. Người Trung Quốc thì đang có một góc nhìn khác. Với cái chết của Lý Văn Lượng, bác sĩ nhãn khoa đã bị giam giữ vì rò rỉ tin tức về sự bùng phát và là người đã bị nhiễm bệnh hồi đầu tháng này, sự phẫn nộ của công chúng đối với chính phủ trong việc cố gắng che giấu virus và trừng phạt những người đưa ra cảnh báo trở nên nghiêm trọng hơn. Tình hình dịch bệnh đã vỡ lở bốn ngày trước lúc bác sĩ Lý chết khi Chủ tịch Tập Cận Bình tuyên bố phát động chiến tranh nhân dân chống lại virus Corona. Khẩu hiệu này dường như phản tác dụng khi nó làm nhiều người nhớ về thời kì đấu tranh giai cấp và chế độ độc tài của Mao Trạch Đông. Số phận của bác sĩ Lý đã kích động những kêu gọi đấu tranh cho tự do ngôn luận mạnh mẽ nhất kể từ vụ thảm sát Thiên An Môn, và các nhà kiểm duyệt mạng Internet đang làm việc ngày đêm nhằm xóa bỏ mọi lời đồn thổi liên quan tới chủ đề này.

Đổ lỗi cho Trung Quốc về bệnh dịch có thể là một định kiến ​​cũ của phương Tây, nhưng nhiều người Trung Quốc đã sẵn sàng đổ lỗi cho Đảng Cộng sản vì đã đàn áp thông tin y tế công cộng và siết chặt an ninh gây sức ép đối với người dân. Thật không thể đổ lỗi cho bất kì ai vì COVID-19, nhưng chúng ta có thể tự vấn xem liệu có cách nào tốt hơn để quản lý tình khủng hoảng hay không. Với một số người, như Giám mục xứ Bath, chỉ tay vềphía Đông. Một số đổ lỗi cho lòng tham huỷ hoại thiên nhiên của con người. Một số chẳng nhìn thấy nơi đâu xa hơn Bắc Kinh.

Võ Tuấn Sơn dịch
Nguồn: Blame China? Outbreak orientalism, from the plague to coronavirus | theglobeandmail.com

Leave a Comment